TẢN MẠN VỀ

TẢN MẠN VỀ
CÁI THÚ ĐỌC SÁCH
HOÀNG HỮU ĐẢN
Trước mặt tôi là mấy cuốn sách mới, in rất đẹp, tôi vừa xem xong:
– Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư;
– Annam, cuốn tiểu thuyết dày không đến 70 trang của Christophe Bataille, một nhà văn trẻ Pháp;
– 2 tập thơ song ngữ Việt – Pháp của Nguyễn Bính và Hàn Mặc Tử, nhà xuất bản Văn học, 2006;
– Hài kịch Hy Lạp (Aristophane), nhà xuất bản Giáo dục, 2006.
Tôi có thói quen, trước khi đọc cuốn sách nào đều phải xem cuốn sách ra đời khi tác giả bao nhiêu tuổi. Tôi rất hài lòng nhận thấy “cái tuổi thăng hoa” của những nhà văn lớn thường đến rất sớm – trước ba mươi, và thú vị nhất là được biết qua về những thăng trầm thành bại trong cuộc đời và sự nghiệp văn học của tác giả.
Cánh đồng bất tận đã được in đi in lại 5 lần rõ ràng vì nó hay, đang là một vấn đề thời sự văn học đặc biệt. Không mấy khi người ta được chứng kiến một phong trào quần chúng ngợi khen và bảo vệ tác giả một cách sôi nổi, liên tục và nhiệt tình như vậy: Hầu như các tầng lớp độc giả khác nhau, bạn bè, các nhà văn, các nhà phê bình và cả các người lãnh đạo văn học đều có gửi bài tới các báo tham gia ý kiến của mình. Phong trào bùng nổ là để phản đối một ai đó đã phát biểu một ý kiến hơi trái khoáy, đòi hỏi kỷ luật Nguyễn Ngọc Tư vì cuốn sách viết quá thật lại quá hay.
Y hệt trường hợp vở hài kịch Những người Acharnes của “Vị tổ phụ hài kịch – Aristophane”. Vở kịch vừa diễn xong, hàng vạn khán giả là dân Athènes đã đứng lên vỗ tay rầm trời, cười reo thoải mái và tặng ngay giải nhất cho tác giả. Bởi, vở hài kịch đã thể hiện hùng hồn và cụ thể cái nguyện vọng tha thiết hòa bình của nhân dân. Tiếp theo ngay năm sau là kiệt tác “Những kỵ binh”. Trong vở này Aristophane đấu tranh không khoan nhượng với tên thủ lĩnh quốc gia hiếu chiến Cléon, qua vai gã Paphlagonien đeo mặt nạ giống hệt Cléon đến nỗi các diễn viên khác đều đâm sợ. Cléon ức quá, muốn đàn áp Aristophane nhưng pháp luật Athènes không cho phép, đành phải đưa đơn ra tòa án kiện nhà thơ để rồi sau cùng phải chuốc lấy thất bại! Tòa án cũng như quần chúng Athènes không đứng về phía kẻ có quyền mà đứng về phía Aristophane, người nghệ sỹ ưu tú của họ, đang dùng tài năng của mình làm rạng rỡ cho non sông đất nước.
Cái tuổi 21 của Aristophane Hy Lạp khiến tôi tự nhiên liên hệ tới cái tuổi 21 của nhà văn hiện đại Pháp, Christophe Bataille, tác giả cuốn Annam, chỉ 64 trang mỏng le, nhưng được dư luận báo chí đánh giá rất cao. Nhà văn Jean Lacouture viết trong tờ Le Nouvel Observateur:
“Annam là cuốn tiểu thuyết quý và kỳ lạ, của một thanh niên tâm hồn thấm nhuần châu Á… Ta hãy đánh cuộc với nhau rằng: bao giờ Christophe Bataille xuất bản cuốn sách tới của anh, chàng trai này sẽ thấy cái tên họ nặng trĩu trong văn học của mình được nối thêm một chữ “Tác giả cuốn Annam” giá trị như một lời biểu dương”.
Hai cuốn sách khác nhau về nội dung nhưng đều có sức hấp dẫn mãnh liệt, và càng hấp dẫn hơn nữa khi chúng ta biết tác giả chúng đã bước lên đài vinh quang khi vừa qua cái tuổi hai mươi.
Hai cuốn thơ song ngữ của Nguyễn Bính và Hàn Mặc Tử thì như một cặp chị em, rất giống nhau về nhiều điểm. Trước hết là về hình thức – rất đẹp: in đẹp, giấy đẹp, bìa đẹp với hai hình vẽ lãng mạn của họa sỹ tài hoa Anh Thơ. Một con thuyền rời bến đang trôi lơ lửng trên dòng. Một vầng trăng tròn vàng thắm vừa mới nhô lên ở cuối chân mây… Cả hai cuốn đều được ông Tổng Lãnh sự Pháp tại Thành phố Hồ Chí Minh Nicolas Warnery, bạn của Christophe Bataille đề tựa. Cả hai cuốn đều có hai lời nói đầu súc tích và trân trọng, một bài nói về nguyên tắc dịch thuật văn học và vai trò quan trọng của dịch giả văn học trong quá trình hội nhập toàn cầu. Một bài phân tích con đường thơ của Hàn Mặc Tử – một trong những nhà thơ lớn, tiêu biểu nhất của thơ ca Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, nhưng cũng là nhà thơ bị hiểu sai hoặc không hiểu nhất trong các nhà thơ. Thơ Hàn Mặc Tử ai cũng khâm phục nhưng khó hiểu, có nhiều yếu tố lãng mạn mà bí ẩn nên có nhiều ý kiến lý giải rất mơ hồ. Phải đợi ngót một nửa thế kỷ sau khi ông mất, thơ ông mới được chính thức đi vào chương trình giảng dạy ở các trường, tên tuổi của ông mới được đặt lại vị trí xứng đáng ở hàng đầu những nhà thơ lớn Việt Nam và thế giới. Trong Từ điển tác giả và tác phẩm của nhân loại, có một mục riêng cho Hàn Mặc Tử. Trong bản dịch thơ của mình, ở hai cuốn, đúng như lời tựa có nói, dịch giả đã thực hiện khá hoàn chỉnh cái vai trò của “một tác giả thứ hai, người anh em sinh đôi của tác giả thứ nhất”. Những độc giả nói tiếng Pháp chắc chắn sẽ thú vị khi đọc những câu thơ truyền cảm sâu sắc bằng tiếng mẹ đẻ của mình, như những câu sau đây trong bài Lỡ buớc sang ngang, La Traversée malheureuse, của Nguyễn Bính:
“Mười năm gối hận bên giường
Mười năm nước mắt bữa thường thay canh
Mười năm đưa đám một mình
Đào sâu chôn chặt mối tình đầu tiên…”
Bản dịch:
Dix ans, les regrets et les amertumes remplissent mon lit
solitaire
Dix ans, mes larmes se mêlent à mon bouillon chaque jour.
Dix ans j’ai suivi mon cercueil et de mes mains creusé
la terre
Pour l’enterrement final de mon premier amour”
(Lỡ bước sang ngang)
Hay trong bài “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử:
“Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?”
Bản dịch:
“Je rêve des visiteurs venant de loin, de très loin…
Ta robe est trop blanche, je suis étonné de te revoir si belle.
En ces endroits òu la fumée et le brouillard voilent le visage
humain.
Qui sait si ton amour restera toujours fidèle?”
(Đây thôn Vĩ Dạ)
Đại khái mà nói, trong khi đọc các nhà văn thuộc những thời đại, những nước khác nhau thì cái chuyện gặp những điểm hơi giống nhau, về cuộc đời, về tác phẩm, là chuyện thường. Nhưng khi có những điểm giống hệt nhau về cả cuộc đời và số phận của tác phẩm thì quả là chuyện hiếm lạ. Tôi muốn nói Hàn Mặc Tử và Vũ Trọng Phụng: Cả hai người cùng sinh năm 1912 và mất người năm trước (Vũ Trọng Phụng 1939) người năm sau (Hàn Mặc Tử 1940). Cả hai người cũng chỉ trong một thời gian ngắn ngủi, mười hai năm, đã vắt kiệt trí óc và con tim mình cống hiến cho đời những kiệt tác bất hủ để rồi chết, ở cái độ 27, 28 xuân xanh. Và tác phẩm của họ cũng đã bị hiểu sai, do thành kiến và do trình độ của các cây bút phê bình, suốt gần nửa thế kỷ dài dằng dặc mới được đặt lại vị trí đích thực của nó, ở hàng đầu các nhà văn, nhà thơ tiêu biểu của Việt Nam. Theo dòng suy nghĩ, tự nhiên tôi liên tưởng tới những hiện tượng văn học khác, rất đáng nhớ của cái tuổi 20, tuổi của tình yêu và những tác phẩm đầu tay bất hủ: Childe Harold’s của Byron, 1809, Con thuyền không bến và Giọt mưa thu của Đặng Thế Phong, mất năm 21 tuổi…
Lấy những yếu tố ngẫu nhiên, bề ngoài của những tác phẩm khác nhau như vậy để viết thành một bài báo như thế này, có lẽ là lạc đề hoặc “thiếu duy nhất hành động” chăng? Dù sao, qua những ý tản mạn đó, tác giả bài này vẫn có cảm giác câu chuyện gẫu đôi khi cũng có ích, nó vừa có tác dụng giải trí bạn bè lúc trà dư tửu hậu, mà đồng thời cũng gợi ý cho người ta tìm đọc những cuốn sách ấy, xem nó ra sao mà khiến tác giả bài báo say mê, say mê về nội dung, say mê cả về những chi tiết râu ria của tác phẩm. Nghĩa là tạo ra cho mọi người cái ý thức quan tâm nhiều hơn và đúng đắn hơn đến lãnh vực văn học nghệ thuật, và tự tạo ra một thói quen mới rất đẹp trong đời sống con người: Văn hóa đọc.
Sau cùng xin nhắn một câu ngắn gọn với Nguyễn Ngọc Tư, cô bạn trẻ đầy sức sống và triển vọng, tuy chưa gặp nhưng đã quý nhau rồi: Một tác phẩm, một tác giả được nhiều người quan tâm là một dấu hiệu tốt, một bảo đảm an toàn, một điều khích lệ.
“Ngọc Tư hãy cứ đọc nhiều, viết nhiều, luôn luôn khiêm tốn, tự tin mà giữ vững phong cách và quan điểm của mình. Độc giả và thời gian bao giờ cũng công bằng và ủng hộ tài hoa để nó không ngừng nảy nở trên cánh đồng bất tận của văn học, từ con người trở về phục vụ con người, trước mắt cũng như mai sau, đúng lương tâm và sứ mệnh nhà văn”
ĐỖ THIÊN THƯ st.(bút hiệu của Dịch giả VŨ ANH TUẤN)

Leave a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *